1. Thành phần trong một hộp:
- Sữa non (colostrum) 100g
- Sữa toàn phần 99g
- Lysine 0,4g
- Choline 0,4g
- Carnosine 0,4g
2. Công dụng:
- Nâng cao sức đề kháng giúp phòng ngừa bệnh tật (cảm, cúm, tiêu chảy…)
- Cung cấp chất sinh trưởng, tăng hấp thu dinh dưỡng giúp trẻ phát triển cơ thể và trí não.
3. Đối tượng sử dụng:
- Trẻ em ốm yếu, hệ tiêu hóa kém hấp thu, chậm lớn, biếng ăn, đặc biệt trẻ sinh non hoặc thiếu sữa mẹ;
- Phụ nữ có thai;
- Người suy nhược cơ thể, ốm yếu.
4. Cách dùng:
- Trẻ em 0-9 tuổi: ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 thìa.
- Thiếu niên và người lớn: ngày uống 2 lần, mỗi lần 1-2 thìa.
* Pha với 20-40 ml nước ấm (40-50oC).
* Nếu trẻ nhỏ thì có thể pha cùng với sữa.
Dùng không quá 30 ngày sau khi mở nắp lọ.
Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.
5. Cơ chế tác dụng:
Colostrum có các chất dinh dưỡng như protein và carbohydrate, các vitamin và chất khoáng cùng với các cytokine (IL-1-beta, IL-6), chất ức chế trypsin, chất ức chế protease và các oligosaccharide. Nó cũng có các nhân tố sinh trưởng giống insulin (IGF) I và II, nhân tố sinh trưởng biến đổi (TGF) alpha và beta, lactoferrin, nhân tố sinh trưởng biểu mô EGF và nhiều nhân tố khác. Một số nhân tố kháng khuẩn cũng có trong colostrum như immunoglobulin (IgA, IgG, IgM), lactoperoxidase, lysozyme. Những nhân tố kháng khuẩn này có tác dụng diệt khuẩn đặc hiệu lẫn không đặc hiệu lên nhiều vi sinh vật gây bệnh khác nhau như vi khuẩn, virus và nấm. Colostrum bò tăng cường miễn dịch định hướng có hiệu quả chống lại nhiều bệnh truyền nhiễm ở người như rotavirus, Shigella flexneri, Escherichia coli, Clostridium difficile, Streptococcus mutans, Cryptosproridium parvum và Helicobacter pylori (Korhonen và cộng sự 2000).
Nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trị 2 tháng bằng cách uống colostrum để ngăn cúm so với tiêm vắc xin kháng bệnh cúm. Các nhóm tham gia gồm các đối tượng khỏe mạnh chưa tiêm phòng, chia nhóm tiêm vắc xin và nhóm dùng colostrum. Sau 3 tháng, đối tượng không dùng colostrum có số ngày bị cúm cao hơn gấp 3 lần. Nhóm dùng colostrum có 13 đối tượng, nhóm cả tiêm phòng lẫn dùng colostrum có 14 đối tượng, 41 đối tượng không tiêm phòng và 57 đối tượng không điều trị. Phần 2 của nghiên cứu có tiến trình tương tự với 65 đối tượng có nguy cơ rất cao bị tim mạch, tất cả họ đều có thể phòng bệnh. Tỉ lệ các biến chứng và vào viện cao hơn ở nhóm chỉ tiêm vắc xin so với nhóm dùng colostrum. Khi dùng Colostrum cả ở đối tượng khỏe mạnh và bệnh nhân có nguy cơ tim mạch cao, có hiệu quả ít nhất gấp 3 lần so với tiêm phòng cúm. ( Cesarone MR, Belcaro G, Di Renzo A, Dugall M, Cacchio M, Ruffini I, Pellegrini L, Del Boccio G, Fano F, Ledda A, Bottari A, Ricci A, Stuard S, Vinciguerra G.; Phòng cúm bằng sữa non so với tiêm phòng và các đối tượng mắc bệnh tim mạch nguy cơ cao: các nghiên cứu dịch tễ học tại San Valentino; Bộ môn Khoa học Y sinh, Đại học G D Annunzio, Chieti, Pescara, Ý).
Sữa non cũng kích thích vi khuẩn có lợi ở trong ruột. Những sinh vật có lợi này giúp tiêu hóa giữ được giá trị dinh dưỡng tốt hơn từ cùng chế độ ăn và cùng khối lượng thực phẩm bổ sung. Đồng thời chúng còn giúp nâng cao hấp thu dinh dưỡng, nuôi dưỡng biểu mô, sản xuất chất xơ giúp bài tiết tốt hơn, sản xuất các vitamin B, ngăn chặn nhiễm trùng và bệnh tật. (Peptide Immunotherapy; Andrew M Keech, PhD; Colostrum; A Physician’s Reference Guide, 35-37).
Chức năng của các Proline rich Polypeptide (PRPs) giống như một hormone điều hòa tuyến ức (điều khiển trung tâm của cơ thể cho hệ thống miễn dịch, và tuyến chịu trách nhiệm cho sự phát triển bình thường của chức năng miễn dịch trong cơ thể), sự kích thích hệ thống miễn dịch hoạt động kém hoặc làm giảm hệ thống miễn dịch vượt quá như trong bệnh tự miễn (MS, viêm khớp dạng thấp, lupus, xơ cứng bì, hội chứng mệt mỏi mãn tính, dị ứng, v.v…). Chúng cho thấy sự cải thiện hoặc loại bỏ các triệu chứng của cả hai bệnh dị ứng và tự miễn. PRPs ngăn sự dư thừa các tế bào lympho và tế bào T và giảm hầu hết các triệu chứng của dị ứng và bệnh tự miễn: đau, sưng và viêm. (Peptide Immunotherapy;Andrew M Keech, PhD; Colostrum; A Physician’s Reference Guide; trang 88).
Lysine quan trọng trong tăng trưởng và nó đóng vai trò thiết yếu trong việc tạo ra carnitine, là một dưỡng chất có khả năng chuyển hóa axit béo tạo ra năng lượng và làm giảm cholesterol. Sự có mặt của lysine giúp cơ thể hấp thụ canxi, và nó đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành collagen, là một chất quan trọng cho xương và mô liên kết gồm da, gân và sụn. (Trung tâm dược, Đại học Maryland).
Choline là đơn vị (tiền chất) để tổng hợp acetylcholine, một chất dẫn truyền thần kinh quan trọng cần thiết cho trí nhớ và các chức năng khác của não. Sử dụng bổ sung choline chủ yếu để điều trị các rối loạn về gan, cholesterol cao, chức năng não. Những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã phát hiện thấy một dạng mới của choline, được gọi là CDP-choline, rất hiệu quả trong việc điều trị các căn bệnh thoái hóa thần kinh như là chứng mất trí tuổi già, bệnh Alzheimer và bệnh Parkinson. Bổ sung CDP-choline cho thấy kích thích sự tổng hợp các phospholipid cấu trúc trong não và màng tế bào thần kinh khác, tăng sự trao đổi chất ở não và hoạt động ở các mức độ dẫn truyền thần kinh khác nhau. (James Meschino; Bổ sung choline để làm chậm quá trình lão hóa não; Huperzine.net ).
Carnosine là một dipeptide bảo vệ hệ thần kinh bao gồm hai axit amin là beta-alanine và L-histidine. Nó có một số tính chất hữu ích như kích thích não giúp quá trình vi tuần hoàn ở cơ và làm trẻ lại các tế bào. Các tính chất này của carnosine bắt nguồn từ tính chất chống oxi hóa và ngăn chặn phản ứng đường hóa, thêm vào đó là khả năng giữ các kim loại nặng và đệm pH, vì vậy mà carnosine trở thành nhân tố cần thiết để ngăn ngừa thoái hóa thần kinh và tích tụ gây thoái hóa não. Mới đây, carnosine đã được sử dụng rất hiệu quả trong việc điều trị cho bệnh nhân sau khi đột quỵ hay bệnh nhân Parkinson. (A.A. Boldyrev, S.L. Stvolinsky. T.N. Fedorova và Z.A. Suslina – Trung tâm nghiên cứu công nghệ sinh học quốc tế, Trường đại học quốc gia M.V Lomonosov, Matxcova, Nga.Và Trung tâm nghiên cứu thần kinh học, Viện hàn lâm y học Nga, Matxcova, Nga).
Trọng lượng tịnh: 200 g/ hộp